Các tầng của La bàn (tiếp)
Chủ nhật - 04/09/2011 01:10
Các tầng của La bàn (tiếp)

Các tầng của La bàn (tiếp)

Những tầng tiếp theo của La bàn...

 

 

 

Tầng số 11 - Thấu địa lục thập long cát hung

    Tầng này là do họ Sái người Tây sơn triều Tống định ra. Họ Sái tức là Sái Nguyên Định, tự Quý Thông người Kiến dương, lúc trẻ được giáo dục tốt, lớn lên theo học nhà đại nho Chu Hi, tinh thông Kinh nghĩa, viết ra nhiều sách, đời gọi là Tây Sơn tiên sinh. Ông cho rằng 72 long xuyên núi đứt mà không nối, thiên kỷ rút lại cong 60 long tuy không gián đoạn nhưng khoảng cách hẹp không đều, nên khi chế bàn, lấy 60 Giáp Tý chia đều đặt ở dưới 24 sơn, dùng Phùng châm làm chuẩn, khởi Giáp Tý ở đầu Nhâm của Phùng châm, dùng để định sự thuần tạp của các long.

    Tầng số 12 - Chia đều 60 phân Kim cát hung

    60 Giáp Tý phân đều ở trong bàn, dưới mỗi phần đều đeo một quái, sắp xếp thứ tự của quái là hình tròn lục thập tứ quái tiên thiên của Thiện tử, bỏ đi bốn chính quái Càn, Khôn, Khảm, Ly. Tác dụng của quái này, chuyên bàn về cửu lục xung hòa, xung hòa là hai hào âm dương trên dưới phối với nhau. Lý luận phong thủy cho rằng, quái tọa huyệt, ngoại quái của nó được Chấn, Cấn, Tốn, Đoài là xung hòa, Càn Khôn Khảm Li là không xung hòa.

    Tầng số 13 - Chính châm 120 phân Kim

    Tầng này là phân đều hai lần lục thập Giáp Tý thành 120 phân Kim, đứng dưới 24 sơn của chính châm, Giáp Tý của nó khởi từ khoảng giữa Nhâm Tý Bính Ngọ của địa bàn. Mỗi chi Giáp Tý xếp ở 10 vị, Giáp Tý Nhâm Quý là cô hư, Bính Tý Canh Tân là Vượng tướng, Mậu Kỷ là Quy Giáp không vong.

    Tầng số 14 - Trung châm nhân bàn của Lại Công

    Lại Công tức Lại Văn Tuấn tác giả cuốn Thôi quan thiên là người khởi xướng ra trung châm ở thế kỷ 12 trước Công Nguyên. Trung châm ở giữa Tý Quý Ngọ Đinh, lấy người là linh thiêng của vạn vật cùng trời đất hợp thành tam tài nên trung châm nhị thập tứ sơn được gọi là nhân bàn.

    Tầng số 15 - Thiên kỷ doanh súc long

    Doanh súc lục thập long, nghe nói truyền từ nhà thuật số Khâu Diên Hàn đầu đời Đường, trên ứng với thiên tinh rộng hẹp không đều nhau, có một Giáp Tý nhảy từ 7° - 8° đến 10°, cũng nhảy từ 5° - 6° đến 3° nên đặt tên là doanh súc (co lại). Lý luận phong thủy cho đó là khí nghinh thiên.

    Tầng số 16 - Phùng châm thiên bàn của Dương Công

    Đây là do Dương Quân Tùng đời Đường sáng chế ra vì châm chỉ giữa Phùng châm Nhâm Tý Bính Ngọ nên đặt tên là phùng châm. Thầy phong thủy dùng bàn này lập hướng cách long.

    Tầng số 17 - Phùng bách nhị thập phân kim

    Tầng này giống tầng 13 nhưng hơi lệch về phía Đông. Bàn này nằm trong nhị thập tứ sơn của Phùng châm, từ nửa nhâm phùng châm đến chính châm phân kim.

    Tầng số 18 - Địa nguyên quy tàng quái

    Trong 64 quái, bốn chunhs quái Khảm, Ly, Chấn, Đoài phân phối 4 mùa, là 24 hào ứng 24 khí như mùa Đông đến Khảm nên Khảm lục hào cư Đông chí để quản lục khí; xuân phân tại Chấn, Chấn lục hào cư xuân phân để quản lục khí Hạ chí tại Ly, Ly lục hào cư hạ chí để quản lục khí, Thu phân tại Đoài, Đoài lục hào cư thu phân để quản lục khí. Mỗi hào quản 15 ngày, mỗi quái quản 90 ngày, Tứ quái được 360 ngày là một vòng. Còn 60 quái khác phân phối 12 ngày, 4 chính quái phân quản 4 mùa, 24 khí.

    Tầng số 19 - Nhị thập bát tú hạn

    Tầng này biểu thị vị trí nhị thập bát tú và số độ đứng trên đường Xích đạo. Nên trong La Kinh giải định Quốc Trinh ghi: giác của tú 12°, Cang tú 9° kém, Đê tú 16° kém, Cơ tú 10° rưỡi, Đẩu tú 25° kém, Ngưu tú 7° kém, Nữ tú 11° kém, Hư tú 9°, Nguy tú 15° rưỡi, Thất tú 17°, Bích tú 8°, Khuê tú 16° rưỡi, Lâu tú 11° hơn, Vị tú 15° rưỡi, Nguy tú 11° kém, Tất tú 17 độ rưỡi, Chủy tú kém độ, Sâm tú 11°, Tỉnh tú 33° kém, Quỷ tú 2° kém, Liễu 13° kém, Tinh tú 6° kém, Trương tú 17° kém, Dực tú 18° hơn, Chuẩn tú 17° kém cộng tất cả 365° + 1/4 độ. Chữ kém, hơn là: Kém chỉ bằng 1/4 độ, hơn bằng 3/4 độ.  

    Tầng số 20 - Thiên nguyên liên sơn quái

    64 quái Tiên thiên, trừ Càn Khôn Khảm Ly 4 chính quái ra, 60 quái còn lại phân vào 60 Giáp Tý, đi theo vòng trong 365 độ, phúc quái khởi đầu từ Hư, tước quái cuối cùng ở Nguy dương - thầy phong thủy căn cứ 360 hào mà xếp đặt tượng cát hung, chọn hào dùng được mà tọa. Hào cát dùng vòng trắng, hào hung dùng điểm đen để tiện lấy bỏ.

    Tầng số 21 - Nhân nguyên hu dịch quái

    64 quái Hậu thiên, lấy lôi phong hỏa địa trạch thiên thủy sơn cộng lên trên quái vị của hậu thiên, trừ Càn Khôn Khảm Ly 4 quái ra, lấy 60 quái phối với 60 Giáp Tý, sắp xếp hào tượng đi theo vòng ngày để nghiệm lưu cát hung của thần sa vị, chủ yếu dùng xem mộ.

    Tầng số 22 - Hổn thiên tinh độ ngũ hành

    Tầng này trong mỗi tú của nhị thập bát tú có phân ngũ hành, phối với lục thập Giáp Tý, Kim 12, Mộc 13, Thủy 12, Hỏa 12, Thổ 12, cộng 61 vị, cùng doanh súc nạp âm làm thể dùng. Nếu Giáp Tý nạp âm thuộc Kim, quản Thất tú, 5, 6, 7, 8, 9, 10 cộng 6 độ cũng thuộc Kim, gọi là thể tỵ hòa thì là vượng cát.

    Tầng số 23 - Hổn nhiên tinh độ cát hung

    Hồ Quốc Trinh trong "La Kinh giải định" nói: Phàm phân giới nhị thập Tứ sơn, một tuyến ở giữa can chi là tiểu không chi, một tuyến ở trong bát can, tứ duy là đại cát không chi, một tuyến trong 12 thần là Sai thác, đều từ chính châm mà định.

    Tầng số 24 - Thập nhị cung thứ tinh phân dã

    Vòng tròn nhị thập bát tú phân làm 12 cung, số độ nhiều ít phân chia khác nhau. Ở Thiên là 12 lần, ở Địa là 12 phương, đem các vùng ở Trung Quốc phối hợp với các tinh tọa và khu vực, Hồ Quốc Trinh đã nói trong "La Kinh giải định": Hợi song ngư cung, Vệ phân - Tinh châu; Tuất bạch dương cung, Lỗ phân - Từ châu; Dậu kim ngưu cung; Triệu phân Ký châu; Thân Âm dương cung; Tấn phân Ích châu; Mùi Cự giải cung; Tần phân Hoan châu; Ngọ sư tử cung, Chu phân Tam hà; Tỵ song nữ cung, Sở phân Kinh châu; Thìn Thiên xứng cung, Trịnh phân Tương châu, Mão Thiên yết cung, Yên phân U châu, Sửu mà yết cung, Ngô phân Dương châu; Tyus Ngọc bình cung, Tề phân Thanh châu.

    Tầng số 25 - Cầm tinh giới vị

    Tầng này biểu thị vị trí 28 tú trên thiên thể, dùng ngũ hành cùng danh cầm và 28 tú phối hợp với nhau để bói cát hung gọi là cầm tinh.

    Như trên đã nói, trong la bàn có 4 tầng chủ yếu dùng để biểu thị phương vị. Tầng số 2 dùng quái "tiên thiên" để biểu thị vị trí của bát phương, tầng số 3 dùng quái "hậu thiên" để biểu thị vị trí của bát phương. Tầng số 4 dùng 12 địa chi để biểu thị 12 phương vị, đó là dùng 12 chi của tầng 4 và "bát can", "tứ duy". Bát can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý trong thiên can (hai can Mậu, Kỷ vì là đại biểu cho trung ương nên không dùng) Tứ duy là 4 quái Càn, Khôn, Tốn, Cấn của quái hậu thiên.

-------------------------------

1   2

Để cụ thể  hơn về la bàn hãy  liên hệ qua số điện thoại   01234. 282 . 727

Tổng số điểm của bài viết là: 8 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
2011 Phong Thủy Phương Đông